Trên đường lang thang, đến núi Thiếu Thất nơi đặt bản doanh của phái Thiếu Lâm, trong một rừng bách, Quách Tương tình cờ gặp một trung niên văn sĩ trạc chừng bốn mươi tuổi, mặc đạo bào trắng. Anh ta than thở: “Ôm trường kiếm, trợn ngược lông mày; than ôi sao nước xanh và đá trắng lại rời rạc nhau đến vậy. Thế gian không tri kỷ, ta sống ngàn năm có ích chi?”. Nghe lời than thở, Quách Tương xúc động, biết người kia cũng đang trong tâm trạng cô đơn như mình. Nước xanh là người phụ nữ; đá trắng là người đàn ông. Anh ta đang mơ ước có một hồng nhan tri kỷ trên đời. Người đó chính là Hà Túc Đạo.
Hà Túc Đạo là người ở xứ Côn Luân giáp Tây Vực (cùng nơi với Âu Dương Phong, cách rất xa Trung Nguyên. Chàng được người đời tán tụng đặt cho danh hiệu Côn Luân tam thánh - ý để chỉ ba tài năng bậc "thánh" là CẦM - KỲ - KIẾM (chơi đàn, đánh cờ và xử kiếm).
Vốn là người khiêm tốn nho nhã, nên anh chàng tự đặt têm vào danh hiệu chữ Hà Túc Đạo, có nghĩa là "không đáng nói như vậy". Tức là "không đáng để được gọi là Côn Luân tam thánh"!.
Hà Túc Đạo gặp Quách Tương lúc trên đường từ Tây Vực xuống Trung Nguyên, tìm lên chùa Thiếu Lâm mong gặp nhà sư Giác Viễn. Nguyên sư Giác Viễn là người coi ở tàng kinh các, để bị mất một cuốn sách kinh Lăng Già đặc biệt quý giá. Hai tên trộm trước khi chết đã ăn năn hối hận, muốn nhờ Hà Túc Đạo chuyển tới Giác Viễn chỉ một câu nói thế này: “Kinh ở trong Hầu”.
Sẵn dịp, Hà Túc Đạo cũng muốn thử tranh tài võ công cao thấp với phái Thiếu Lâm - vốn lừng danh thiên hạ. Nên chàng ta đã bí mật đột nhập vào Đại Hùng bảo điện chùa Thiếu Lâm, dán lên tay bức tượng phật Giáng Long một bức thư khiêu chiến: “Võ công Thiếu Lâm xưng hùng Trung Nguyên và Tây Vực đã lâu. Trong 10 hôm nữa, Côn Luân tam thánh sẽ liều mình đến xin thỉnh giáo”.
Chính chữ "tam thánh" trong ngoại hiệu của Hà Túc Đạo, mà từ Quách Tương và cả Vô Sắc thiền sư - chủ tọa La Hán đường - chuyên việc đánh nhau với ngoại địch, cứ tưởng là ... ba (tam) người!
Khi gặp Quách Tương, nghe nàng gảy một khúc nhạc, Hà Túc Đạo đâm mê mẩn tâm hồn, tưởng như đã tìm ra người tri kỷ. Chàng ta đã sáng tác ra một bản nhạc dành riêng cho Quách Tương. Đối đáp "tình ý" mà nàng gửi trong khúc nhạc (ấy là Hà Túc Đạo nghĩ như vậy). Khi nghe khúc nhạc ấy, Quách Tương cảm nhận được trong đó bao nỗi niềm ý nhị, thiết tha, đến mức nàng bỗng đỏ mặt, cảm thấy thẹn thùng và cảm thấy đó là khúc nhạc hay nhất mà mình từng nghe!
Có thể nói, thoạt nhìn bề ngoài, Hà Túc Đạo và Quách Tương đúng là một đôi trai tài gái sắc, cân sức cân tài và cứ như là rất hợp để dành cho nhau. Vì mặc dù Quách Tương là một cô gái rất thông minh, xinh đẹp và rất nhiều người khi gặp nàng đều say mê, yêu mến. Dù đó là ai. Tỷ như ngay Trương Quân Bảo (sau này là Trương Tam Phong - tổ sư phái Võ Đang), dù nhỏ hơn nàng mấy tuổi, khi đó mới khoảng 15 tuổi, khi gặp Quách Tương đã quyến luyến không thể rời xa. Nhưng xét về tuổi tác và tài năng, và thậm chí cả tình cảm và nỗi niềm ưu ái, trìu mến, nặng phần say mê, lãng mạn của Hà Túc Đạo dành cho cho nàng, có thể khẳng định nếu Quách Tương yêu Hà Túc Đạo thì hẳn đây sẽ là một cặp đôi rất đẹp trên chốn giang hồ. Và Quách Tương có thể sẽ có được hạnh phúc chăng?
Nhưng khổ nỗi trái tim luôn có lý lẽ riêng. cho nên dù biết rõ Dương Quá đã có thê tử là Tiểu Long Nữ, nhưng Quách Tương vẫn không thể nào quên sầu nhớ chàng. Trong tình cảnh như vậy, thì nàng làm sao có tâm trạng nào để mà yêu, thậm chí để ý đến kẻ khác, trong đó có Hà Túc Đạo vậy.
Lại nói về Hà Túc Đạo, sau khi vào chùa Thiếu Lâm tỷ đấu với sư Giác Viễn và đệ tử của ông là Trương Quân Bảo (sau này trở thành Trương Tam Phong, sáng lập ra phái Võ Đang) và ... thất bại, chàng ta đã xấu hổ quay bước trở về cố hương. Cũng từ đó bặt tin trên chốn giang hồ.
Bất luận thế nào, hẳn trong trái tim y vẫn luôn in mãi bóng hình người thiếu nữ xứ Trung Nguyên xinh đẹp và không kém phần hào hoa kỳ tài Quách Tương. Kế cũng đáng thương cho y.
Đây là một sự kiện bản lề, không chỉ định hình lại cục diện võ lâm mà còn là tiền đề cho sự ra đời của phái Võ Đương và Nga Mi sau này.
Nguồn gốc của trận chiến
Nguyên nhân sâu xa của trận chiến bắt nguồn từ việc Doãn Khắc Tây và Tiêu Tương Tử ăn cắp bộ Cửu Dương Chân Kinh từ Tàng Kinh Các của chùa Thiếu Lâm. Trước khi chết ở Tây Vực, Doãn Khắc Tây hối hận và nhờ Hà Túc Đạo (Côn Lôn Tam Thánh) đến chùa Thiếu Lâm nhắn lại cho Giác Viễn đại sư câu nói: "Kinh tại hầu trung" (Kinh ở trong bụng con vượn).
Tuy nhiên, do nói thều thào, Hà Túc Đạo đã nghe lầm thành "Kim tại du trung" (Vàng ở trong dầu). Với tính cách tự phụ về tài năng cầm, kỳ, kiếm, Hà Túc Đạo không chỉ đến để đưa tin mà còn muốn thử thách danh tiếng "võ học chi nguyên" của Thiếu Lâm tự. Ông ta đã đột nhập vào La Hán Đường và để lại tờ thiếp thách đấu trên tay pho tượng Hàng Long La Hán.
Diễn tiến trận đấu
Trận chiến diễn ra qua ba giai đoạn chính, thể hiện sự áp đảo của nội công Cửu Dương trước kỹ thuật hoa mĩ:Màn phô diễn nội công trên bàn cờ đá: Hà Túc Đạo dùng một viên đá sắc cạnh vạch trực tiếp lên nền đá xanh cứng như thép trước sân chùa để tạo thành một bàn cờ lớn, nét vẽ sâu tới nửa tấc, thể hiện nội lực kinh người. Giác Viễn đại sư xuất hiện, gánh đôi thùng sắt đầy nước nặng hàng trăm cân, dùng xích sắt kéo lê trên đất để xóa sạch những đường vạch của Hà Túc Đạo, cho thấy nội công của ông còn thâm hậu hơn một bậc.
Cuộc đấu giữa Hà Túc Đạo và Giác Viễn: Hà Túc Đạo sử dụng Tấn Lôi Kiếm, tấn công nhanh như điện chớp. Dù Giác Viễn hoàn toàn không biết võ công, nhưng nhờ nội lực Cửu Dương Chân Kinh đã đến mức "tòng tâm sở dục", ông dùng hai chiếc thùng sắt để đỡ gạt một cách vụng về nhưng vô cùng hiệu quả, khiến Hà Túc Đạo không thể chạm vào người.
Trương Quân Bảo đối đầu Hà Túc Đạo: Sau khi bị Trương Quân Bảo đánh trúng một chưởng cứu sư phụ, Hà Túc Đạo tức giận thách đấu mười chiêu với cậu bé tạp dịch này. Trương Quân Bảo lúc này chỉ học lỏm được vài chiêu từ đôi La Hán bằng sắt do Quách Tương tặng và bốn chiêu do Dương Quá dạy trên núi Hoa Sơn. Tuy nhiên, nhờ nội lực Cửu Dương liên miên bất tuyệt, Quân Bảo đã hóa giải được các chiêu thức phức tạp như Thiên Sơn Tuyết Tiêu của họ Hà. Ở chiêu cuối cùng, khi đối chưởng nội lực, Hà Túc Đạo nhận thấy mình không thể thắng nổi luồng nội kình hồn hậu của Quân Bảo nên đã nhảy lùi ra và chấp nhận chịu thua, thề suốt đời không đặt chân vào Trung Thổ nữa.
Đánh giá và phân tích
Về nhân vật Giác Viễn: Ông là đại diện cho mẫu hình "đại trí nhược ngu". Dù mang trong mình thần công vô địch nhưng ông không hề biết đó là võ công, chỉ xem là phép tu tập để rèn luyện sức khỏe. Sự phòng thủ của ông dựa trên bản năng và nội lực thâm hậu, minh chứng cho việc nội công thượng thừa có thể khỏa lấp sự thiếu hụt về chiêu thức.
Về nhân vật Trương Quân Bảo: Trận chiến bộc lộ thiên tư võ học tuyệt đỉnh của ông. Dù chỉ là một tạp dịch quét dọn, nhưng với ngộ tính cao, ông đã biến những chiêu thức học lỏm thành quyền pháp nghiêm cẩn, đủ để đối kháng với cao thủ hàng đầu.
Về nhân vật Hà Túc Đạo: Ông là một thiên tài ngông cuồng nhưng trọng chữ tín. Dù thất bại dưới tay một đứa bé do sự chênh lệch nội lực, ông vẫn giữ lời thề rời bỏ Trung Nguyên. Thất bại của ông là minh chứng cho việc chiêu số quái dị, hoa mĩ vẫn phải chịu thua trước nội công chính tông, hồn hậu.
Kết luận
Trận chiến này mang lại những hệ quả lịch sử to lớn cho thế giới võ hiệp của Kim Dung. Sự đố kỵ và luật lệ khắt khecủa Thiếu Lâm tự đã buộc thầy trò Giác Viễn phải chạy trốn sau trận đấu vì tội học lén võ công. Cái chết của Giác Viễn sau cuộc chạy trốn dẫn đến việc Cửu Dương Chân Kinh được chia ba, đặt nền móng cho sự hưng thịnh của ba phái Thiếu Lâm, Võ Đương và Nga Mi. Đặc biệt, từ đôi thùng sắt và phần kinh văn nhớ được, Trương Quân Bảo đã lên núi Võ Đương, ngộ ra lẽ nhu khắc cương và sáng lập phái Võ Đương, trở thành vị đại tông sư Trương Tam Phong vĩ đại.
-------------------


No comments:
Post a Comment